TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DU LỊCH NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ

Với khí hậu trong lành, thiên nhiên được bảo tồn và gìn giữ, Đại Từ thật sự là một vùng đất đầy tiềm năng cho phát triển Du lịch.

 

TS. Nông Thu Huyền

 

1. Tổng quan chung về Du lịch huyện Đại Từ

 

Huyện Đại Từ có tổng diện tích tự nhiên gần 57.800 ha, trên 165.300 nhân khẩu, với 8 dân tộc anh em cùng chung sống là Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay, Dao, Sán Dìu, Hoa, Ngái… Vì thế, văn hóa dân tộc ở đây cũng phong phú và có nhiều nét độc đáo. Nhận thức được thế mạnh của mình, thời gian qua, huyện đã thực hiện rà soát và xác định những điểm có giá trị về văn hóa, khoa học, lịch sử để lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh và Quốc gia. Đến nay, toàn huyện có gần 40 di tích cấp tỉnh và 8 di tích Quốc gia.

 

Trên cơ sở các di tích đã được xếp hạng, huyện xác định nhu cầu tôn tạo, tu sửa. Qua đó, nhiều di tích đã được trùng tu khang trang như: Khu di tích lịch sử Quốc gia 27-7, thị trấn Hùng Sơn; Đền Gàn, xã Vạn Thọ; nơi công bố Quốc thư đầu tiên, xã Tiên Hội; Di tích Núi Văn, Núi Võ xã Văn Yên; Nơi ra đời Đội Thanh niên xung phong, xã Yên Lãng; đền Sảng, xã Ký Phú…

 

Khám phá suối Kẹm tại xã La Bằng- huyện Đại Từ

Bên cạnh đó, huyện đã tăng cường công tác bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật dân gian như: Hát Then, đàn Tính của dân tộc Tày; Lễ Cấp sắc, Tết Nhảy của dân tộc Dao; hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu… Qua đó, tạo nên sự độc đáo, phong phú trong văn hóa ở các địa phương. Nhờ vậy, một số địa điểm văn hoá, lịch sử, điểm có lợi thế khai thác du lịch bước đầu đã được du khách biết đến, bước đầu quản lý, khai thác có hiệu quả.

 

Ngoài ra, huyện đặc biệt chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông nhằm tạo điều kiện để khách du lịch đến với Đại Từ được thuận lợi. Đến nay, huyện đã cơ bản hoàn thiện hệ thống đường giao thông đến các điểm du lịch trên địa bàn, đồng thời hình thành 2 tour chính là: Hồ Núi Cốc – Di tích 27-7 – nơi thành lập cơ sở Đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên – khöng gian văn hóa trà La Bằng – Di tích thanh niên xung phong – Di tích Nguyễn Huệ – Định Hóa – Tuyên Quang và Hà Nội – Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc – Hồ GVai Miếu – Di tích 27-7 – Di tích Núi Văn, Núi Võ – Hồ Núi Cốc.

 

Tính riêng năm 2018, toàn huyện đã đón hơn 30 nghìn lượt khách đến tham quan, du lịch, chưa kể số lượng lớn khách đến tham quan tại Khu du lịch Hồ Núi Cốc.

 

Đây là kết quả bước đầu trong phát triển du lịch ở Đại Từ. Tuy nhiên, kết quả này vẫn còn quá khiêm tốn so với tiềm năng. Vì thế, thời gian tới, với mục tiêu khai thác hiệu quả, bền vững tiềm năng du lịch, đặc biệt chú trọng đến những lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, di tích lịch sử, văn hóa… huyện sẽ tập trung xây dựng 2 loại hình du lịch chính là: Du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa – tín ngưỡng. Từ đó từng bước đưa du lịch trở ngành ngành kinh tế có vị trí trong cơ cấu kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.

 

Để làm được như vậy, hiện nay, Đại Từ đang tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các di tích đủ điều kiện, tăng cường quản lý, bảo vệ, khai thác có hiệu quả giá trị của các điểm du lịch, di tích. Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân về bảo tồn, phát huy giá trị di tích trên địa bàn, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường sinh thái. Đặc biệt, huyện đẩy mạnh các hoạt động thu hút đầu tư đối với lĩnh vực này, nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để các nhà đầu tư thực hiện dự án du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành các tour, tuyến du lịch trên địa bàn.

 

Bên cạnh những lợi thế phát triển du lịch hiện có, huyện cũng cam kết sẽ đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để các nhà đầu tư giải quyết nhanh, gọn các thủ tục đầu tư, tạo cơ chế chính sách thông thoáng về mặt bằng cũng như các điều kiện khác trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Tuy nhiên, huyện cũng sẽ xem xét, lựa chọn các nhà đầu tư thực sự có năng lực và có phương án đầu tư phù hợp, đặc biệt chú trọng đến vấn đề tác động môi trường và giải quyết việc làm cho lao động địa phương để du lịch Đại Từ phát triển một cách bền vững.

 

2. Thuận lợi khi phát triển du lịch nông nghiệp tại huyện Đại Từ

 

Là vùng có tiềm năng du lịch nông nghiệp lớn. Đại Từ với hơn 6000 ha chè, hơn 300 ha cây ăn quả. Các xã nằm gần chân núi Tam Đảo nên phần rừng vẫn giữ được.

 

Đến cuối năm 2020, toàn huyện đã thành lập được 50 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với 424 thành viên. Các hợp tác xã nông, lâm nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm đầu mối trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

 

Suối Kẹm, có nguồn nước trong lành bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, hiện nay huyện Đại Từ  đã có 18/28 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 16,57 tiêu chí nông thôn mới/xã, không còn xã đạt dưới 10 tiêu chí. Huyện phấn đấu từ nay đến cuối năm 2020 có thêm 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới, hoàn thành mục tiêu 100% số xã về đích nông thôn mới vào năm 2022 và đạt chuẩn huyện nông thôn mới trước năm 2025.

 

– Điều kiện giao thông thuận lợi, gần khu du lịch Hồ núi cốc.

 

– Trên địa bàn có suối Kẹm La bằng, suối Cửa tử, thu hút khách du lịch đến khám phá.

 

3. Khó khăn khi phát triển du lịch nông nghiệp tại huyện Đại từ

 

Thiếu quy hoạch tổng thể. Vấn đề quy hoạch, bảo tồn các làng nghề truyền thống nông nghiệp gắn với du lịch nông nghiệp là một việc khó khăn đòi hỏi tầm nhìn lâu dài. Điều này cần một quyết sách rất mạnh mẽ từ các cấp lãnh đạo vì liên quan trực tiếp tới chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa và cộng đồng cư dân nông nghiệp (nông hộ, trang trại, các trung tâm khuyến nông lâm ngư nghiệp, các hợp tác xã).

 

Vùng chè được canh tác hữu cơ tại Xã Hoàng Nông – Đại từ

Tuy nhiên, hiện nay huyện Đại từ còn đang thiếu quy hoạch tổng thể làng nghề gắn kết với du lịch cũng như lộ trình cho quá trình thực hiện.

 

– Thiếu bộ tiêu chuẩn hóa về sản phẩm du lịch nông nghiệp: Hiện nay chưa có bộ tiêu chuẩn để đánh giá tiềm năng cũng như đánh giá hoạt động của sản phẩm du lịch nông nghiệp. do vậy còn lúng túng trong quản lý và quảng bá sản phẩm.

 

– Cần đào tạo kỹ năng tiếp đón du khách và tiếp thị các sản vật cho các nông hộ vì hàng ngày họ vẫn phải trực tiếp sản xuất nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không có sự trợ giúp trên. Trên huyện Đại Từ đã có nhiều dự án, chương trình cho tập huấn cho người dân trong việc phát triển du lịch cộng đồng, hướng dẫn viên du lịch tại điểm nhưng do người dân cũng chưa thực sự nhân thức vấn đề quan trọng của đóng góp tập thể trong việc phát triển du lịch nên tham gia chưa đông, không chuyên nghiệp.

 

– Truyền thông, quảng bá, xúc tiến của địa phương, của quốc gia đối với việc phát triển du lịch nông nghiệp gắn với chương trình nông thôn mới theo hướng bền vững. Điều này đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên để cân bằng giữa bảo tồn, giữ gìn và phát triển.

 

– Số hộ thực sự tham gia vào Du lịch nông nghiệp còn ít; Hiện huyện Đại từ đang có 3 điểm, có người dân tham gia xây dựng Farstay để kết hợp giữa nghỉ dưỡng và du lịch nông nghiệp, tuy nhiên sức chứa của farm stay nhỏ, chưa tạo thành một khu du lịch lớn, do vậy sẽ thiếu hụt chỗ ở nếu lượng khách du lịch tăng.

 

– Việc kết nối giữa các điểm du lịch với nhau chưa có, các đoàn khách du lịch đến với huyện Đại Từ đa số để khám phá suối Kẹm, suối Cửa Tử, thực sự biết và quan tâm đến nông nghiệp còn ít.

 

Thái Nguyên, 2021