Đặc sản chè Thái Nguyên: Tìm hiểu 5 giống chè nổi tiếng

Dù ở nơi nào trên tổ quốc này, chắc hẳn không ít hơn một lần bạn đã nghe thấy thương hiệu: chè Thái, gái Tuyên. Tuy nhiên để hiểu cặn kẽ về các loại sản phẩm chè đang có của Thái Nguyên, ưu điểm của từng loại sản phẩm và có thể tìm mua cho mình món quà ưng ý, xứng với túi tiền mình bỏ ra thì thật là khó đúng không? Đến Thái Nguyên, bạn sẽ lạc vào mê hồn trận các sản phẩm chè xanh và với giá tiền khác nhau từ 200 nghìn đồng đến 3,5 triệu đồng một kg. Bài viết này của một người đã từng sinh ra và lớn lên, gắn bó với cây chè đã hơn 50 năm và mong muốn đem đến cho bạn một trải nghiệm thật sự khi đến với vùng đất Thái Nguyên.

 

Có nhiều sản phẩm được chế biến từ chè như chè xanh, chè đen, chè Olong…, ở đây chỉ để cập đến chè xanh thôi bạn nhé. Chè Olong và chè đen xin được đề cập đến trong khuôn khổ bài viết khác.

 

Đồi chè tại huyện Đại Từ

Đầu tiên để có một ấm chè ngon, thực sự phù hợp với gu của mình, nói với tư cách một người nghiện chè nặng như người viết thì điều bạn quan tâm phải đến từ nhiều khía cạnh: Giống chè, đất đai, canh tác và chế biến. Khi đã có đầy đủ các điều kiện trên thì cũng không phải lúc nào cũng có được một ấm chè như ý. Có sự khác biệt rất lớn giữa chất lượng của các lứa chè trong năm, đó chính là điều kiện thời tiết. Một chén chè có hương thơm ngào ngạt vào vụ xuân sẽ khác với mùi hương và vị của chính lô chè ấy vào vụ tháng 7 và tháng 10. Sự thay đổi của thời tiết đã làm nên điều kỳ diệu, để cho mỗi lần thưởng thức chè cho ta một cảm nhận khác, một mong muốn khác, nhưng đấy là sự cảm nhận có được từ những người thưởng thức chè lâu năm, còn bạn, đứng có quá hoang mang, chúng ta hãy đi từ đầu những kiến thức cơ bản nhất, để tìm hiểu về chè, để cùng thưởng thức và trải nghiệm nhé.

  1. Về đất trồng chè: Thái Nguyên hiện này có hơn 27 nghìn ha chè, trong đó huyện Đại từ trồng nhiều nhất với 6.336 ha. Diện tích đất thích hợp cho trồng chè rất lớn, tuy nhiên những vùng đất có thương hiệu, hay những địa điểm ở đấy có nhiều chè ngon hơn những vùng khác (nhiều hơn thôi, điều này sẽ được giải thích ở những phần sau của bài viết này). Thứ nhất: vùng chè Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trừu thuộc thành phố Thái Nguyên. Thứ hai: xã Hoàng Nông, La Bằng, Hùng Sơn thuộc huyện Đại Từ, thứ ba: Xã Văn Hán – Đồng Hỷ. Rõ ràng là chè khi trồng ở những địa điểm này có vị ngon hơn những vùng khác, nhưng chính tôi, trong một nghiên cứu về đất trồng chè đã tiến hành phân tích nguyên tố hóa học và vật lý của một số vùng trồng chè nhưng cũng không thấy có sự khác biệt nào thật rõ ràng về những con số. Tuy nhiên, có số liệu khá rõ ràng là những hộ nào trồng chè sử dụng trong canh tác nhiều phân bón hữu cơ vi sinh, phân ủ, giảm bớt hàm lượng phân đạm, bón kali bổ sung sẽ có chất lượng chè tốt hơn nếu bón chỉ có phân NPK hoặc phân đạm. Ví dụ xã Sông Cầu tại huyện Đồng Hỷ nơi tôi sinh ra thì tỷ lệ người dân có chè ngon tuy không nhiều, nhưng cũng không phải là không có, và chất lượng chè của những hộ này cũng không kém so với loại chè hảo hạng tại Tân Cương mà rẻ hơn nhiều!!! Vì vậy trong bài học vỡ lòng này, khuyên bạn mua chè ở vùng nào của Thái Nguyên, cũng nên chọn những địa chỉ tin cậy và họ có canh tác nhiều phân hữu cơ nhé.
  2. Giống chè: Khi mua 1 kg chè xanh đã qua chế biến yêu cầu của đa số người mua chỉ cần: cánh xoăn, búp nhỏ, nước xanh là đạt yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay có hơn 12 giống chè đang được canh tác tại Thái Nguyên, mỗi giống sẽ có hương thơm và vị khác nhau. Xin chỉ kể ra 5 giống chè phổ biến nhất.
  • Giống chè Trung du lá nhỏ: được trồng tại Thái Nguyên từ rất lâu, hiện nay có những nương chè Trung du trồng từ năm 1965 -1970 vẫn đang được chăm sóc và cho năng suất tốt. Giống chè này, có đặc điểm là nếu chăm sóc không tốt sẽ cho ít búp, búp khi hái hay bị dai, điều này thật đáng ngại, vì trong sản xuất chè xanh, công thu hái chiếm tỷ lệ rất lớn, chè mọc rất nhanh, do vậy đa số đều phải thuê hái. Người hái thuê sẽ ngại hái tại những nương chè Trung du hơn những giống chè khác, cá biệt có những nương chè trung du còn không tìm được người hái thuê, do lúc cao điểm người hái cũng kén chọn những vườn chè giống mới, dễ hái. Hơn nữa, khi chăm sóc không tốt, chè khi sao lên uống sẽ có vị chát, đỏ nước dẫn đến giá thành giảm. Do vậy hiện này giống chè Trung Du đã được thay thế bởi nhiều giống chè khác có năng suất búp cao hơn. Hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng gần 50% diện tích vẫn còn trồng giống chè Trung du. Nhưng có một điều là khi những nương chè Trung du được canh tác hữu cơ nhiều năm, thì chất lượng chè lại ngon hơn những giống chè khác. Chè khi uống sẽ có hương thơm và vị rất riêng, không trộn lẫn được và vì thế chè Trung du vẫn có giá rất cao. Nếu thực sự là một người nghiện chè, chắc hẳn hương vị của giống chè này sẽ làm bạn không thể quên. Có ít vùng chè của Thái Nguyên trồng chè Trung du mà lại ngon, chỉ có vùng Tân Cương, La Bằng là còn nhiều. Giá cả khác nhau; cũng 1 kg chè Trung du có thể có giá từ 100 nghìn đến 1 triệu đồng, đấy là trung bình. Còn đôi khi có những cân chè Trung du còn lên đến giá 2- 3 triệu đồng 1 kg.
  • Giống chè lai LDP1: là giống do Viện nghiên cứu chè lai tạo, được công nhận giống quốc gia năm 2002. Đây là giống chè được trồng khá nhiều ở Thái Nguyên, ưu diểm của giống mật độ búp rất dày, sớm cho năng suất cao. Đây là  giống chè có vị khi uống gần với chè Trung du nhất, ưu điểm của giống là dễ hái, búp cũng có kích cỡ trung bình nên cho thành phẩm chè khá đẹp, chè có  nước xanh khá đẹp mắt.
  • Giống chè Kim Tuyên: được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ôlong lá to và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975, giống được trồng khá phổ biến tại Thái Nguyên. Chè xanh chế biến từ giống Kim Tuyên có mùi thơm mạnh, nước chè rất xanh, tuy nếu uống để có cảm nhận dư vị ngọt hậu đượm đà như chè Trung du ngon thì kém hơn, những người thích uống chè vị không quá đậm như chè Trung du thì đây là một lựa chọn tốt vì hàm lượng tanin trong chè Kim Tuyên hiện nay thấp nhất trong số các giống chè đang được trồng ở Thái Nguyên.
  • Giống chè Nhật: trồng nhiều ở vùng Sông Cầu, Đồng Hỷ.Vị thơm vừa phải, nước xanh, chất lượng phụ thuộc nhiều vào canh tác.
  • Giống chè Long Vân: Chất lượng rất ngon, vị đậm đà. Giống Long Vân chỉ có ở vùng trà La Bằng của Thái Nguyên. Ở La Bằng cũng chỉ có khoảng vài chục hộ trồng giống này thôi. Loại trà này là giống lai giữa trà Trung du của Việt Nam và Long Tỉnh – loại trà xanh đứng đầu Thập Đại Danh Trà. La Bằng có một nửa diện tích nằm thoai thoải theo dãy núi Tam Đảo nên nơi đây có vi khí hậu tự nhiên rất tốt cho cây chè phát triển. Trà Long Vân thích hợp cho những người có gu trà đậm đà, thích uống đặc. Hương thơm, đậm vị, nước xanh và hậu ngọt kéo dài.
  • Giống chè Bát Tiên: trồng ở một số vùng tại Đại Từ, Tân cương. Chè có vị rất đượm, thơm đậm tuy nhiên búp thưa, nếu không canh tác tốt thì chất lượng không được tốt do chè sẽ có vị chát, cánh chè sau chế biến xấu. Do vậy diện tích chè Bát Tiên không còn nhiều, nhưng nếu là người nghiện chè, muốn uống loại chè thật đặc thì giống Bát Tiê sẽ là một lựa chọn tốt
  1. Chế biến: Một trong những khâu khó nhất và dễ nhất đó chính là chế biến chè. Hiện nay với các công cụ máy móc hỗ trợ như máy sao, máy vò chè thì việc chế biến chè trở nên đơn giản và nhàn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, cũng một loại chè búp tươi nhưng những nghệ nhân chế biến chè cho ra sản phẩm chè ngon hơn rất nhiều so với người sao chè bình thường. Do vậy mỗi vùng cũng chỉ có một vài người sao chè nổi tiếng, thường mua chè búp tươi của các hộ trong khu vực về chế biến và bán theo thương hiệu của họ, do vậy giá thành sẽ rất cao.

Bình thường chè xanh được thu hai dạng 1 tôm, 1 lá hoặc  1 tôm hai lá, đôi khi để cho độc đáo, người hái sẽ chỉ lựa chọn hái một búp nhỏ nhất trên đầu đỉnh của búp chè. Do chỉ hái một tôm nên công hái sẽ rất lâu, người chế biến cũng phải thực sự có tay nghề. Chè chế biến từ chè như vậy gọi là chè đinh. Chè Đinh cũng được chế biến từ nhiều giống khác nhau. Giá thường rất đắt: Kể cả bao gói, chè có giá từ 3-3,5 triệu đồng/1 kg. Nhưng bạn ơi, chất lượng của chè  được chế biến bằng nguyên liệu một tôm hái lá và chè đinh nếu cùng một người chế biến, cùng giống canh tác thì không khác nhau nhiều. Nếu không vì là quà tặng thì vẫn có thể thưởng thức chè ngon, rất ngon với tầm giá 500-600 nghìn đồng cho 1 kg, chỉ là bao gói xấu hơn mà thôi.

 

Đồi chè giống LDP1 tại Tân Cương Thái Nguyên
Một mô hình du lịch nông nghiệp tại xã Hoàng Nông- Đại Từ
Tác giả cùng khách Du lịch thưởng thức trà tại Tân Cương- Thái nguyên
Trà Đinh được chế biến từ nguyên liệu búp 1 tôm
Làng nghề chè tại xã Phú Đình- Định Hóa- Thái Nguyên

Vậy nên mua chè nào đây và với giá tiền bao nhiêu thì vừa: lời khuyên chân thành là chè thay đổi giá theo mùa, mùa đông sát Tết âm lịch,  hoặc đầu xuân chè có giá thành cao nhất. Đầu mùa xuân, chè có mùi hương thơm rất dễ chịu, còn vào vụ thu đầu đông chè sẽ có vị đượm và rất được nước. Và mỗi người uống sẽ thích một giống chè khác nhau, vì mỗi giống chè, mỗi vùng canh tác sẽ có một nét riêng, rất riêng.

Mong muốn bạn một lần đến thăm Thái Nguyên, thăm nghệ nhân của các làng nghề, cảm nhận hương vị chè qua mỗi mùa, ngắm các đồi chè thay màu áo mới mỗi khi xuân về và để thấy mình dần trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực thưởng thức chè.

                                                                             Vũ Thị Thanh Thủy

                                                                                 Thái Nguyên, năm 2020